Hỏi Đáp

  • Hỏi :Tôi xin hỏi:
    Thực hiện NQ08/2011/QH13 (trong đó có chính sách miễn thuế TNCN từ 01/08/2011), trường hợp đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương tiền công (tức là sau khi giảm trừ gia cảnh…) là 10 triệu đồng, cách tính thuế nào sau đây là đúng:
    Cách 1:
    Tính từ bậc 1: số thuế là 5.000.000 đ *5% =250.000 đ
    Bậc 2: số thuế là (10.000.000-5.000.000) *10% = 500.000 đ
    Tổng số thuế là 750.000 đ
    Cách 2:
    Miễn bậc 1, tính từ bậc 2 nên thuế phải nộp là 500.000 đ
    Tôi xin cảm ơn.
    Đáp :

    Tư vấn để bạn tham khảo:

    Từ tháng 8/2011 đến hết tháng 12/2011 : Tạm chưa khấu trừ thuế TNCN, tạm chưa thu thuế TNCN đối với người hưởng lương và cá nhân kinh doanh có mức thu nhập tính thuế đến bậc 1 của Biểu thuế luỹ tiến từng phần theo quy định của Luật thuế TNCN.

    Như vậy chỉ miễn thuế cho người hưởng lương và cá nhân kinh doanh có mức thu nhập tính thuế đến bậc 1. nên tổng số thuế phải nộp là 750 ngàn ( như cách tính 1 của bạn là đúng)

    Bạn tham khảo thêm Thông tư 154/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 có hiệu lực từ ngày 26/12/2011: Khoản 2, Điều 9 quy định

    " 2. Cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân từ bậc 2 trở lên của Biểu thuế luỹ tiến từng phần quy định tại Điều 22 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 4 năm 2007 không được miễn thuế ở bậc 1 của Biểu thuế luỹ tiến từng phần."

  • Hỏi :Cơ sở sản xuất C vừa có hoạt động sản xuất thức ăn gia súc vừa có hoạt động trực tiếp chăn nuôi gia súc. Trong kỳ tính thuế có số liệu sau:
    Thức ăn gia súc sản xuất để bán ra có trị giá chưa thuế GTGT là 900 triệu
    Thức ăn gia súc sản xuất để phục vụ hoạt động chăn nuôi có trị giá chưa thuế GTGT là 900 triệu.
    Biết thuế suất thuế GTGT thức ăn chăn nuôi là 5%, và Tổng số thuế GTGT đầu vào được trong kỳ là 40 triệu (hợp pháp). Xác định thuế GTGT phải nộp ?
    Đáp :

    Bạn tham khảo trong mục " Bài thi trắc nghiệm" cũng đã nêu vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi giải thích lại cho bạn:

    Thức ăn gia súc sản xuất ra một phần  sử dụng để bán ra chịu thuế GTGT và một phần tiếp tục sử dụng cho hoạt động chăn nuôi gia súc thì cơ sở C không phải tính và nộp thuế GTGT đối với số thức ăn gia súc phục vụ hoạt động chăn nuôi không chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất thức ăn gia súc được khấu trừ được phân bổ theo tỷ lệ doanh thu bán thức ăn gia súc trên tổng số doanh thu bán thức ăn gia súc và doanh thu bán gia súc. ( Tham khảo TT129/2008/TT-BTC)

    Thuế GTGT đầu ra (bán hàng): = 900 triệu x 5% = 45 triệu

    Thuế GTGT đầu ra (Tiêu dùng nội bộ): = 900 triệu x 5% = 45 triệu ( Vì trong kỳ CSSX C không có doanh thu từ việc bán gia súc)

    Thếu GTGT đầu vào ( hợp pháp) : 40 triệu

    Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: 40 triệu x 100% = 40 triệu ( Vì trong kỳ CSSX C không có Doanh thu từ việc bán gia súc nên )

    Thuế GTGT phải nộp trong kỳ: (45 triệu + 45 triệu) - 40 triệu = 50 triệu

  • Hỏi :Tôi xin hỏi:
    Công ty tôi thực hiện tạm nộp thuế TNDN hàng quý. Trong năm 2009, công ty tôi đã kê khai và tạm nộp thuế TNDN 04 quý là 10 tỷ. Khi quyết toán cả năm, số thuế TNDN tính lại là 8 tỷ, như vậy, Công ty tôi đã nộp thừa tiền thuế TNDN năm 2009 là 2 tỷ. Số tiền thừa này, Công ty tôi không bù trừ với số phải nộp của các quý tiếp theo năm 2010. Hiện tại, đối chiếu với tình hình nộp ngân sách nhà nước với cơ quan thuế, Công ty tôi vẫn đang nộp thừa là 2 tỷ tiền thuế TNDN. Ngoài ra, thuế GTGT Công ty cũng đang nộp thừa là 15tr.
    Khi cơ quan thuế xuống quyết toán thuế năm 2009 tại Công ty tôi có phát hiện sót một khoản doanh thu trong năm nhưng chưa xuất hóa đơn, dẫn đến số tiền thế TNDN phải nộp tăng lên là 25tr và thuế GTGT phải nộp cũng tăng lên là 10tr.
    Như vậy, tôi xin hỏi Công ty tôi có bị phạt chậm nộp khoản thuế TNDN 25tr và GTGT 10 tr do cơ quan thuế phát hiện ra không, vì thực tế Công ty đang nộp thừa các khoản thuế này. Tôi tham khảo TT 61 về xử phạt thuế nhưng không thấy quy định rõ về trường hợp như công ty tôi. Nếu bị phạt, Công ty sẽ bị phạt theo hành vi gì và các mức phạt cụ thể là như thế nào?
    Tôi xin cảm ơn.
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn tham khảo:

    Căn cứ khoản 1, Điều 34 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 11 NĂM 2006

    1. Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế.
    và Điều 47. Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 1.
    1. Người nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền thuế phải nộp đối với từng loại thuế thì được trừ vào tiền thuế phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo hoặc được trả lại số tiền thuế nộp thừa.
    2. Trường hợp người nộp thuế có yêu cầu trả lại số tiền thuế nộp thừa thì cơ quan quản lý thuế phải ra quyết định trả lại số tiền thuế nộp thừa trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu.
    Căn cứ những quy định trên, Công ty của bạn sẽ bị truy thu và phạt khoản thuế TNDN và thuế GTGT nêu trên. Đồng thời Công ty bạn có thể xin hoàn lại khoản thuế nộp thừa, hoặc xin trừ vào tiền thuế nộp thừa.

  • Hỏi :Công ty tại Hà Nam có mua ô tô 5 chỗ ngồi nhưng trên hoá đơn lại ghi là Văn phòng đại diện Công ty tại Hà Nội có con dấu riêng, hạch toán phụ thuộc, chỉ có chức năng giao dịch.
    Giá trị ghi trên hoá đơn cho Văn phòng đại diện:
    Giá trị chưa thuế: 1.828.000.000 đ
    Thuế VAT 10%: 182.800.000đ
    Tổng giá trị: 2.010.800.000đ
    Vậy xin hỏi Công ty kê khai thuế GTGT như thế nào? Nếu được khấu trừ số tiền thuế là bao nhiêu?
    Xin cảm ơn./.
    Đáp :

    Căn cứ thông tư 129/2008/TT-BTC quy định:

    " Tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ."

    Căn cứ quy định nêu trên, Đơn vị của bạn kê khai thuế và khấu trừ 160 triệu.

  • Hỏi :Tôi xin hỏi:<br />Công ty tôi cung cấp dịch vụ mua hàng trực tuyến trên internet. Công ty có ký hợp đồng với các đối tác là các nhà cung cấp hàng hóa, đưa các sản phẩm lên trang web của Công ty tôi. Khách hàng có nhu cầu mua hàng trên web, công ty tôi sẽ liên hệ với đối tác cung ứng hàng và bên tôi chịu trách nhiệm giao hàng cho khách hàng.<br />Về bản chất, Công ty tôi bán hàng đúng giá và hưởng hoa hồng. Như vậy,do số lượng khách hàng tương đối nhiều, chủ yếu là cá nhân nên cuối tháng Công ty tôi sẽ lập hóa đơn tổng cộng hàng hóa bán cho khách hàng cá nhân đồng thời nhận hóa đơn của các đối tác cung ứng hàng hóa có được không? (trừ trường hợp khách hàng yêu cầu hóa đơn, công ty tôi sẽ xuất ngay). <br />Tôi xin cảm ơn.<br />Tôi xin cảm ơn.<br />
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn tham khảo:

    Căn cứ Điều 14, chương III, Thông tư 153/2010/TT-BTC quy định:
    “ Trường hợp khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ từ 200.000 đồng trở lên mỗi lần, người mua không lấy hóa đơn hoặc không cung cấp tên, địa chỉ, mã số thuế (nếu có) thì vẫn phải lập hóa đơn và ghi rõ “người mua không lấy hoá đơn” hoặc “người mua không cung cấp tên, địa chỉ, mã số thuế”
    Căn cứ Điều 16, chương III, Thông tư 153/2010/TT-BTC quy định:
    1. Bán hàng hoá, dịch vụ có tổng giá thanh toán dưới 200.000 đồng mỗi lần thì không phải lập hóa đơn, trừ trường hợp người mua yêu cầu lập và giao hóa đơn.
    2. Khi bán hàng hóa, dịch vụ không phải lập hóa đơn hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, người bán phải lập Bảng kê bán lẻ hàng hóa, dịch vụ. Bảng kê phải có tên, mã số thuế và địa chỉ của người bán, tên hàng hoá, dịch vụ, giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra, ngày lập, tên và chữ ký người lập Bảng kê. Trường hợp người bán nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì Bảng kê bán lẻ phải có tiêu thức “thuế suất giá trị gia tăng” và “tiền thuế giá trị gia tăng”. Hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên Bảng kê theo thứ tự bán hàng trong ngày.
    Căn cứ quy định trên, bảng kê bán hàng phải được lập cho những hoá đơn dưới 200.000 đ và lập hàng ngày ( nếu có phát sinh).


Xem tất cả

  • Hỏi :Cho em hỏi BHXH, BHYT, BHTN mình có thể tử tham gia được không ? Nếu được thì phải làm như thế nào?
    Cám ơn chương trình!
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn hiểu thêm về bảo hiểm tự nguyện:

    Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28/12/2007 của Chính phủ hướng dẫn một số Điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện, hướng dẫn về thủ tục tham gia và giải quyết hưởng các chế độ BHXH đối với người tham gia BHXH tự nguyện gồm đối tượng là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH (Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 5 năm mới đủ 20 năm, kể cả những người đã có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên mà chưa nhận BHXH một lần, có nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện thì được đóng tiếp cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu).
     Thứ nhất, về mức đóng BHXH: Đóng theo tỷ lệ đã được quy định của mức thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn. Tỷ lệ quy định cụ thể: bằng 16% trong thời gian từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2009; bằng 18% từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2011; bằng 20% từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 và từ tháng 01/2014 trở đi bằng 22%. Mức thu nhập tháng lựa chọn được quy định thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung; khoảng cách chênh lệnh giữa các mức là 50.000 đồng (mức thấp nhất tính cho năm 2008 là 540.000 đồng, mức thứ 2 là 540.000 đồng + 50.000 đồng, mức tiếp theo là 540.000 đồng + 50.000 đồng + 50.000 đồng và...).
    Thứ hai, về phương thức đóng: Được lựa chọn đóng theo hàng tháng hoặc hàng quý hoặc 06 tháng một lần. Thời điểm phải đóng BHXH đối với đóng hàng tháng là 15 ngày đầu tháng; đối với đóng hàng quý là 45 ngày đầu quý; đối với đóng 06 tháng một lần là 03 tháng đầu quý.
    Thứ ba, về thủ tục đăng ký tham gia BHXH: Người tham gia BHXH tự nguyện lập 02 bản Tờ khai tham gia BHXH tự nguyện theo mẫu và 01 bản sao Giấy khai sinh, gửi BHXH cấp huyện (Trường hợp đã tham gia BHXH và đã được cấp Sổ BHXH thì nộp thêm Sổ BHXH và Bản ghi quá trình đóng BHXH do cơ quan BHXH cấp trước khi di chuyển hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH). Sau thời hạn 20 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, người tham gia tiếp nhận Sổ BHXH đã được cấp và Tờ khai tham gia BHXH để lưu giữ (khi nhận Sổ BHXH ký vào nơi quy định trên trang 2 của Sổ BHXH. Trường hợp tàn tật hoặc không biết chữ thì điểm chỉ, thân nhân người tham gia BHXH tự nguyện ghi thay họ và tên).
     Thứ tư, về thủ tục đóng BHXH: Người tham gia BHXH tự nguyện đóng tiền mặt trực tiếp cho cơ quan BHXH huyện nơi đăng ký đóng BHXH theo thời gian và địa điểm quy định cụ thể của cơ quan BHXH hoặc chuyển tiền từ tài khoản cá nhân vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH huyện mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn; nhận Phiếu thu tiền đóng BHXH của mỗi lần đóng để lưu giữ và tháng đầu quý I hàng năm, tiếp nhận từ cơ quan BHXH mẫu sổ Tờ rời đã xác nhận thời gian đóng BHXH của năm trước, ký vào nơi quy định, lưu giữ để làm căn cứ giải quyết chế độ BHXH. Trường hợp người tham gia BHXH tự nguyện không tiếp tục đóng BHXH và không có yêu cầu nhận BHXH một lần thì được coi là tạm dừng đóng, khi tiếp tục đóng BHXH phải đăng ký lại vào tháng đầu quý.
     Thứ năm, về ghi, xác nhận đóng BHXH: Khi người tham gia BHXH tự nguyện di chuyển ngoài địa bàn tỉnh hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH hoặc giải quyết các chế độ BHXH thì phải chuyển Sổ BHXH cho cơ quan BHXH để ghi, xác nhận và chốt thời gian đã đóng BHXH
     

    Như vậy, bạn hoàn toàn có thể tham gia bảo hiểm tự nguyện.

  • Hỏi :tính BHTN như thế nào
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn tham khảo:

    Căn cứ Điều 5 - Luật Bảo hiểm xã hội Số 71/2006/QH11 NGÀY 29 THÁNG 6 NĂM 2006

    1. Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
    2. Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung.
    3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội.
    4. Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp.
    5. Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội.
     

  • Hỏi :Đơn vị tôi có ký hợp đồng cho 2 người thời hạn hợp đồng là 2 tháng, hết 2 tháng đơn vị tôi lại ký tiếp hợp đồng 2 tháng nữa cho 2 người đó. vậy đơn vị có phải đóng BHXH,BHYT và BHTN cho họ hay ko?
    Đáp :

    Căn cứ Khoản 2, Điều 2 - Luật Bảo hiểm xã hội quy định:

    2. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.

    Như vậy, Đơn vị sử dụng lao động và trả công cho người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. ( BHTN phải trên 10 lao động mới tham gia).

    Tuy nhiên, chúng tôi trao đổi thêm :

    Căn cứ Điều 27(*) - Bộ Luật Lao động sửa đổi bổ sung quy định:
    1– Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
    a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
    Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
    b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
    Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;
    c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
    2– Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
    3– Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.
    Như vậy, đơn vị bạn ký tiếp hợp đồng 2 tháng với người lao động là trái luật.

  • Hỏi :Tôi làm nhân viên thuê thu VNPT viễn thông đồng nai,la nhân viên thuê khóan.Trong hơ.p đồng là 1 năm ký 1 lần.Nhưng từ khi tôi làm tới nay là hơn 5 nãm nhưng hơn 80 người nhân viên chúng tôi không có được 1 trợ cấp gì,từ BHXH,BHYT và những ngày lễ tết chúng tôi cũng không có được tiền thưỡng nhưng chúng tôi lai bị đóng tiền thuế tạm thu.Ví dụ,trong 1 tháng tôi làm được tiền hoa hồng là 5.000.000đ công ty trừ tôi 500.000đ thuế tạm thu như vậy có đúng trong thuế không và chúng tôi có được hưởng chế độ gì không.
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn tham khảo:

    Theo Luật LĐ đã được sửa đổi bổ sung thì:
    Điều 27(*)
    1– Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
    a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
    Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;
    b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn.
    Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;
    c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
    2– Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
    3– Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.
     

    Như vậy, theo quy định của Bộ luật lao động thì Đơn vị thuê bạn làm công việc có tính chất thường xuyên nhưng không ký hợp đồng lao động với bạn là vi phạm pháp luật.
    Bạn cần yêu cầu  thanh tra lao động thuộc sở LĐTBXH để yêu cầu can thiệp.
     

  • Hỏi :toi lam trong co quan nha nuoc khoang 7 nam, nay to chuyen sang co quan moi.toi ra lam viec voi co quan xa hoi xin duoc chuyen dong bao hiem xa hoi tai co quan moi.nhung co quan bao hiem xa hoi yeu cau toi tra lai the bao hiem y te,nhung do toi da lam mat the bao hiem y te. vay toi can thuc hien nhung thu tuc gi de duoc chuyen bao hiem
    Đáp :

    Chúng tôi trao đổi để bạn tham khảo:
    Trong trường hợp nghỉ việc, nếu thẻ BHYT vẫn còn hiệu lực thì NLĐ có trách nhiệm phải nộp lại thẻ đó cho người sử dụng lao động (NSDLĐ). NSDLĐ có trách nhiệm liên hệ cơ quan BHXH để tiến hành thủ tục khai báo giảm lao động, trả lại thẻ BHYT và tiến hành chốt sổ BHXH cho NLĐ.
    Trường hợp không trả thẻ BHYT, nếu thẻ đó vẫn còn hiệu lực thì NSDLĐ có trách nhiệm phải đóng hết tiền BHYT của những tháng còn lại còn hiệu lực của thẻ theo quy định.


    Như vậy, nếu bạn không trả lại thẻ BHYT khi nghỉ việc thì công ty có cơ sở để yêu cầu bạn phải nộp tiền BHYT cho những tháng còn lại có hiệu lực của thẻ đó.
    Trường hợp làm mất thẻ và không muốn phải đóng tiền BHYT cho những tháng còn lại có hiệu lực của thẻ thì bạn có thể yêu cầu công ty tiến hành thủ tục xin cấp lại thẻ BHYT đã mất và nộp trả lại cơ quan BHXH theo quy định.
     


Xem tất cả

Hỗ Trợ Trực Tuyến
090 85 85 345
090 85 85 347
Support Yahoo Support Skype