Quy định chi tiết về Chi phí được trừ.

Thứ ba, 02/08/2011, 10:50 GMT+7

Kể từ khi Luật thuế TNDN có hiệu lực đã không tồn tại quy định về chi phí hợp lý hợp lệ. DN được trừ vào chi phí được trừ trước khi tính thuế là những khoản chi thực tế không thuộc 31 khoản quy định tại khoản 2, mục IV, phần C của Thông tư số 130/2008, có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và thì mặc nhiên DN được trừ toàn bộ. Chứng từ không nhất thiết phải là hoá đơn đỏ mà ngược lại, hoá đơn chỉ là 1 loại chứng từ liên quan đến giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ.

Theo Thông tư số 130/2008 và hướng dẫn mới bổ sung tại Thông tư số 18/2011 về chi phí hợp lý.

Lâu nay, kỳ tính thuế TNDN được quy định theo năm dương lịch phù hợp với số đông. Nhằm tạo thuận lợi cho DN làm tốt công tác hạch toán, điều hành, nhất là DN hoạt động trên phạm vi rộng, cả trong nước và nước ngoài... TT số 18/2011 trao cho DN quyền áp dụng, hoặc chuyển đổi sang kỳ tính thuế theo năm tài chính khác với năm dương lịch chỉ cần bảo đảm nguyên tắc đơn giản là kỳ tính thuế của năm chuyển đổi không vượt quá 12 tháng. Ví dụ, một DN quyết định từ năm 2011 sẽ chuyển đổi kỳ tính thuế từ năm dương lịch sang năm tài chính mới (bắt đầu từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 3 của năm sau) thì kỳ tính thuế của năm chuyển đổi sẽ được tính từ ngày 01/01/2011 đến hết 31/03/2011 và kỳ tính thuế của năm tài chính tiếp theo được tính từ 01/04/2011 đến hết 31/03/2012. Điều cần nhấn mạnh ở đây là với những DN được hưởng ưu đãi về thuế suất hoặc thời gian miễn, giảm thuế thì việc chuyển đổi này không bị ảnh hưởng vì thuế TNDN là loại thuế tính theo năm. Quy định của Luật thuế luôn phù hợp với thực tế cuộc sống và thông lệ chung là 1 năm bao gồm 12 tháng.

Bên cạnh đó, kể từ khi Luật thuế TNDN có hiệu lực đã không tồn tại quy định về chi phí hợp lý hợp lệ. Cộng đồng DN đã quen thuộc với việc được tự mình kê khai tất cả khoản chi thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của DN vào chi phí được trừ trước khi tính thuế. Điểm đáng lưu ý là những khoản chi thực tế không thuộc 31 khoản quy định tại khoản 2, mục IV, phần C của Thông tư số 130/2008, có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và thì mặc nhiên DN được trừ toàn bộ. Chứng từ không nhất thiết phải là hoá đơn đỏ mà ngược lại, hoá đơn chỉ là 1 loại chứng từ liên quan đến giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ. Tiếp tục quan điểm tư tưởng thông thoáng này và tạo thuận lợi cho DN giảm bớt thủ tục giấy tờ, tránh việc có cách hiểu khác nhau giữa cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán DN, TT số 18/2011 hướng dẫn cụ thể thêm về 10 khoản chi dưới đây:

1. Về các khoản tổn thất về tài sản, hàng hoá do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn được tính vào chi phí. Nguyên tắc chung là DN phải tham gia bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro (ví dụ bảo hiểm cháy nổ), trường hợp không may xảy ra thiệt hại thì sẽ được DN bảo hiểm bồi thường. Thực tế cho thấy bồi thường của bảo hiểm thường thấp hơn thực tế thiệt hại, do đó phần chênh lệch thiếu hụt đó DN được tính vào chi phí được trừ sau khi đã tính toán phân bổ trách nhiệm cho những tổ chức, cá nhân có liên quan. Các loại giấy tờ là chứng từ hạch toán được thể hiện trong điểm 2.a.1 của Điều 1, TT số 18/2011.

2. Hàng hoá bị hư hỏng do hết hạn sử dụng:

Lâu nay, DN thường bị lép vế đối với trường hợp này với lý do rất đơn giản là DN phải tính toán mua, bán, dự trữ hàng hoá đủ dùng, quá hạn dùng rồi thì DN phải chịu. Thực tế thường xảy ra những thiệt hại về hàng hoá bị hư hỏng do thay đổi quá trình sinh hoá tự nhiên, hàng ”quá đát” và đây là điều không ai mong muốn cả. Tháo gỡ bức xúc lâu nay, tại điển 2.a.2 của Điều 1 TT số 18/2011 có quy định DN chủ động xây dựng định mức, trách nhiệm giải trình và những nội dung được tính vào chi phí.

3- Trích khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): DN chủ động lựa chọn phương pháp trích khấu hao và thông báo cho cơ quan Thuế (không phải xin, không phải đăng ký và không phải xét duyệt). Đề phòng rủi ro khi thanh tra, kiểm toán bắt bẻ về thủ tục, có lẽ DN nên làm việc thông báo này trong nội dung của tờ khai thuế của quý đầu tiên trong năm và thuyết minh rõ trong báo cáo tài chính năm, tờ khai thuế của kỳ quyết toán.
Đối với tài sản cố định phải tạm dừng do sản xuất theo mùa vụ, hoặc do phải tháo lắp để di chuyển (cần cẩu máy trong xây dựng) thì trong thời gian không hoạt động do các nguyên nhân này, DN vẫn được trích khấu hao để tính vào chi phí. DN cần phải có văn bản thông báo gửi cơ quan Thuế, nêu rõ lý do (điểm 2.b, Điều 1 của TT 18/2011).

8- Về trích lập quỹ dự phòng tiền lương của năm sau liền kề năm quyết toán. Nội dung này đã được quy định tại TT số 130/2008. Tuy nhiên nội dung và các ví dụ tình huống được hướng dẫn cụ thể hơn, chi tiết hơn tại điểm 2.d.2 thuộc Điều 1 của TT số 18/2011. Lưu ý ở chỗ:

Dự phòng này chính là số dư tài khoản kế toán (tiền lương và các khoản phải trả) tại thời điểm 31/12 nhưng được kiểm tra, xác định số phát sinh bên Nợ trong thời gian quý I của năm sau liền kề.

- Về mặt thủ tục chứng từ, cần phải có Phiếu kế toán để chủ động tính toán tiền trích lập quỹ dự phòng tiền lương của năm sau liền kề.

9- Về khoản chi trang phục. Trước đây, TT số 130/2008 có quy định về chi trang phục nhưng phân biệt mức giới hạn chi bằng tiền không quá 1 triệu đồng; chi bằng hiện vật không vượt quá 1,5 triệu đồng. Điểm mới của TT số 18/2011 là nâng mức khống chế tối đa về chi trang phục nhằm đảm bảo cho DN thực hiện được trong điều kiện giá cả có biến động. Chi ở mức nào, chi bằng tiền hay hiện vật là thuộc quyền của DN, nhà nước chỉ giới hạn mức được tính vào chi phí mà thôi (tối đa 5 tr.đồng/người/năm). Với những trường hợp đặc thù cần chi trang phục ở mức cao hơn thì DN cần gửi văn bản tới Bộ Tài chính để được hướng dẫn cho phù hợp.

10- Chi thanh toán phụ cấp và chi phí cho người lao động đi công tác. Không ít DN thường nhầm lẫn rất đáng tiếc về các khoản chi này do không hiểu tường tận đạo lý và tính chất kinh tế của nó. TT số 18/2011 đã quy định cụ thể hơn nội dung này diễn giải như sau: Thanh toán cho chuyến đi công tác có các khoản: (i) phụ cấp lưu trú (trong nước) hoặc tiền tiêu vặt (nếu đi nước ngoài); (ii) tiền tàu xe phương tiện đi lại; và (iii) tiền ở tại khách sạn, nhà nghỉ hay bất cứ nơi nào có thể nghỉ được.

Với khoản (i) thì DN được quyền chi gấp 2 lần mức áp dụng đối với công chức, viên chức nhà nước (DN có thể chi bằng 1 lần cũng được không sao cả). Với các khoản (ii) và (iii) thì ràng buộc là: Thanh toán theo chứng từ thực chi ra hoặc chỉ được áp dụng mức quy định với công chức, viên chức nếu như DN thanh toán theo mức khoán.

11- Về xử lý các khoản trích trước theo kỳ hạn. Đạo lý của quy định về chi phí trích trước là nguyên tắc ”chi phí phù hợp với doanh thu”. Thực tế có những trường hợp chi phí phát sinh 1 lần nhưng liên quan đến nhiều chu kỳ và không cùng thời điểm với hoạt động có doanh thu cho nên cần phải trích trước hoặc phân bổ để bảo đảm tính ổn định chi phí của từng khoảng thời gian hoạt động. Lâu nay, các cơ quan kiểm toán, thanh tra thường chỉ chấp nhận khoản trích trước về sửa chữa tài sản cố định; với khoản trích trước khác thì còn băn khoăn lắm và hiện tượng phổ biến là lắc đầu, chọn bài ”xuất toán” cho chắc ăn, không dại gì chịu trách nhiệm !

Nội dung mới được quy định tại TT số 18/2011 (điểm 2.i thuộc Điều 1) là ở chỗ áp dụng trích trước đối với hoạt động đã hạch toán doanh thu nhưng còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và các khoản trích trước khác. Quy định này giải toả cho DN và công chức thuế trong rất nhiều trường hợp, thí dụ ngay từ khi ký hợp đồng dịch vụ, Bên nhận dịch vụ đã trả tiền, yêu cầu Bên cung cấp phải xuất hoá đơn GTGT. Khi đã xuất hoá đơn GTGT thì phải hạch toán doanh thu. Nay có quy định này, giải pháp được lựa chọn là trích trước chi phí đối với khoản thu này đã hạch toán doanh thu nhưng nghĩa vụ chưa hoàn thành. Việc xác định cụ thể số cần trích trước đối với từng hoạt động, DN cần dựa trên số liệu thống kê kinh nghiệm thực tế đã phát sinh trong thời gian vài năm trước đó liền kề. Quy định về trích trước tuy tạo thuận lợi khá nhiều cho cộng đồng DN trong việc hạch toán, xác định đúng kết quả kinh doanh của một kỳ kế toán, tránh tình trạng phải nộp thuế TNDN nhiều hơn số thực tế phát sinh. Tuy nhiên, các DN cũng không bao giờ quên nguyên tắc căn bản là phải quyết toán đối với từng trường hợp có xử lý trích trước. Khi đó, phiếu kế toán là một chứng từ tiện lợi, có giá trị pháp lý.


Người viết : Nguyễn Khúc Nga



Hỗ Trợ Trực Tuyến
090 85 85 345
090 85 85 347
Support Yahoo Support Skype